Sáng ngày 12/05/2026, Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức họp Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu cấp cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia: “Nghiên cứu lún mặt đất phục vụ chống ngập khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị Đồng bằng sông Cửu Long”, mã số ĐTĐL.CN-62/23, do PGS.TS. Nguyễn Hữu Huế làm chủ nhiệm.

Tham dự cuộc họp có các thành viên Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu; đại diện đơn vị chủ trì, các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực địa kỹ thuật, tài nguyên nước, thủy văn – thủy lực, môi trường đô thị cùng các thành viên nhóm thực hiện nhiệm vụ.
Đề tài được triển khai trong bối cảnh lún mặt đất đang trở thành một trong những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phòng, chống ngập tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Sự kết hợp giữa điều kiện nền đất yếu, quá trình đô thị hóa nhanh, tải trọng công trình, khai thác nước dưới đất, triều cường và biến đổi khí hậu đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải lượng hóa được hiện trạng, nguyên nhân và xu thế lún, từ đó tích hợp kết quả lún vào bài toán quy hoạch, quản lý cao độ nền và chống ngập đô thị.

Nhiệm vụ hướng đến ba mục tiêu chính: đánh giá hiện trạng, điều kiện và nguyên nhân lún mặt đất tại khu vực nghiên cứu; xây dựng mô hình dự báo lún theo các kịch bản phát triển kinh tế – xã hội, biến đổi khí hậu và nước biển dâng; đồng thời đánh giá ảnh hưởng của lún mặt đất đến ngập úng tại các khu vực điển hình, làm cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch và đề xuất giải pháp chống ngập.
Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn ba vùng điển hình gồm Hiệp Bình – Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Kiều – Thành phố Cần Thơ và trung tâm Thành phố Cà Mau. Đây là các khu vực đại diện cho những dạng điều kiện đô thị, địa chất nền, khai thác nước dưới đất và nguy cơ ngập khác nhau. Trên cơ sở đó, đề tài đã xây dựng chuỗi nghiên cứu liên thông từ dữ liệu nền, mô hình cấu trúc nền 3D, mô hình nước dưới đất, mô hình dự báo lún, mô hình ngập lụt 1D-2D đến hệ thống cơ sở dữ liệu GIS/Geo-AI phục vụ quản lý và chuyển giao.

Một trong những điểm nổi bật của nhiệm vụ là việc bổ sung, chuẩn hóa và tích hợp hệ thống dữ liệu địa chất – địa kỹ thuật, địa chất thủy văn, địa hình, ảnh viễn thám, dữ liệu InSAR, hiện trạng sử dụng đất, tải trọng đô thị và ngập lụt. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát, khoan bổ sung tại ba khu vực điển hình, phục vụ kiểm soát mô hình cấu trúc nền, xác định bề dày đất yếu, đặc trưng cơ lý của các lớp đất và các tham số đầu vào cho mô hình tính toán lún.

Trên cơ sở dữ liệu thu thập và khảo sát bổ sung, đề tài đã xây dựng mô hình cấu trúc nền 3D cho các khu vực nghiên cứu, qua đó chuyển hóa các thông tin địa chất mô tả thành các lớp dữ liệu định lượng phục vụ mô phỏng. Mô hình này là nền tảng quan trọng để thiết lập mô hình nước dưới đất, mô hình lún và mô hình ngập. Kết quả cho thấy tại các khu vực điển hình, nền đất yếu phân bố phức tạp, có sự biến đổi mạnh theo không gian, đặc biệt tại các vùng ven sông, kênh rạch, khu vực đô thị hóa nhanh và khu vực có địa hình thấp.

Đối với mô hình nước dưới đất, nhóm nghiên cứu đã mô phỏng dòng chảy nước dưới đất trong hệ thống các tầng chứa nước, xây dựng và phân tích các kịch bản khai thác, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến các mốc thời gian 2030 và 2050. Kết quả mô hình cho phép nhận diện các khu vực có nguy cơ hạ thấp mực nước dưới đất, từ đó đánh giá tác động đến ứng suất hữu hiệu trong nền đất và nguy cơ gia tăng lún dài hạn.
Đề tài đã thiết lập mô hình dự báo lún mặt đất trên cơ sở tích hợp điều kiện địa tầng, tham số cơ lý đất, mực nước dưới đất theo kịch bản và tải trọng đô thị. Kết quả mô phỏng được xây dựng trên lưới tính toán không gian, phục vụ lập bản đồ tốc độ lún và bản đồ lún tích lũy theo các kịch bản. Các kết quả cho thấy cơ chế lún tại ba khu vực có sự khác biệt rõ rệt: khu vực Hiệp Bình chịu tác động mạnh của tải trọng đô thị, nền Holocene mềm và điều kiện ven sông; khu vực Ninh Kiều chịu ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị ven sông, tải trọng công trình, giao thông và hạ thấp mực nước dưới đất; trong khi khu vực Cà Mau đặc biệt nhạy cảm do nền đất yếu dày, địa hình thấp, khai thác nước dưới đất kéo dài và tác động của triều.

Trên cơ sở kết quả dự báo lún, nhóm nghiên cứu tiếp tục tích hợp trường lún vào mô hình ngập lụt 1D-2D. Cách tiếp cận này cho phép cập nhật mô hình số độ cao sau lún, từ đó đánh giá sự thay đổi về diện tích ngập, độ sâu ngập và thời gian ngập dưới tác động tổng hợp của mưa, triều và lún mặt đất. Đây là điểm có ý nghĩa thực tiễn cao, bởi lún mặt đất không chỉ là một hiện tượng địa kỹ thuật riêng lẻ mà còn là biến số đầu vào quan trọng trong bài toán chống ngập đô thị.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại Cà Mau, do hiện trạng ngập nền đã ở mức cao, tác động của lún thể hiện rõ hơn ở sự gia tăng độ sâu và thời gian ngập. Tại Hiệp Bình, khi cao độ nền giảm do lún, nhiều khu vực có thể vượt ngưỡng ngập, làm diện tích ngập tăng đáng kể trong các kịch bản bất lợi. Tại Ninh Kiều, lún mặt đất làm gia tăng nguy cơ ngập sâu ở khu vực ven sông, kênh rạch nội đô và các khu vực có mật độ xây dựng cao, qua đó tạo thêm áp lực cho hệ thống tiêu thoát nước, cống, bơm và hạ tầng đô thị.
Bên cạnh các kết quả mô hình, đề tài đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu GIS/Geo-AI, tích hợp các lớp dữ liệu nền, kết quả mô phỏng lún, nước dưới đất, ngập lụt, bản đồ kịch bản và các tài liệu chuyên môn. Hệ thống này có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn hóa, lưu trữ, truy vấn, chia sẻ và cập nhật dữ liệu, đồng thời hỗ trợ các cơ quan quản lý trong công tác quy hoạch, kiểm tra cốt nền, quản lý khai thác nước dưới đất và lựa chọn giải pháp chống ngập phù hợp.

Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng đánh giá cao khối lượng công việc đã thực hiện, cách tiếp cận liên ngành và giá trị ứng dụng của đề tài. Hội đồng nhận định kết quả nghiên cứu đã góp phần làm rõ cơ chế lún mặt đất tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị Đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học quan trọng để tích hợp yếu tố lún vào quy hoạch chống ngập, quản lý cao độ nền, kiểm soát khai thác nước dưới đất và định hướng phát triển hạ tầng đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hội đồng cũng đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý, tiếp tục rà soát, hoàn thiện báo cáo tổng hợp, báo cáo tóm tắt, hệ thống bản đồ, cơ sở dữ liệu và các sản phẩm kèm theo, bảo đảm tính thống nhất, khoa học và khả năng chuyển giao cho các địa phương, cơ quan quản lý có liên quan.
Kết thúc phiên họp, Hội đồng thống nhất đánh giá nhiệm vụ đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nội dung và sản phẩm theo yêu cầu đặt ra; đồng thời đề nghị nhóm thực hiện tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để phục vụ công tác nghiệm thu ở các cấp tiếp theo theo quy định.
