Trang chủ / Giới thiệu / Giới thiệu tổng quan / Lịch sử hình thành các Đoàn ĐH và Cơ sở 2 – Đại học Thủy Lợi

Lịch sử hình thành các Đoàn ĐH và Cơ sở 2 – Đại học Thủy Lợi

1. Quá trình hình thành các Đoàn ĐH trong 10 năm đầu

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng phát triển kinh tế ở miền Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, mà công tác thuỷ lợi ở đây còn yếu về cơ sở hạ tầng, sơ sài về tài liệu quan trắc, thiếu hụt về đội ngũ cán bộ khoa học… Theo đề xuất của trường Đại học Thủy Lợi, Ngày 1/4/1976, Bộ trưởng Bộ Thủy Lợi ra quyết định số 494-QĐ/TC thành lập đoàn công tác của Trường Đại học Thủy Lợi lấy tên là “Đoàn khảo sát thiết kế thủy lợi miền Nam” với mục tiêu phối hợp, hỗ trợ các địa phương phía Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp, ổn định cuộc sống mới. Đoàn công tác đầu tiên gồm 15 cán bộ giảng viên và hơn 100 tân kỹ sư khoá 12 và 13 vào 6 tỉnh: Quảng Nam – Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Gia Lai – Kontum, Đắc lắc và Tp. Hồ Chí Minh.

GV. Trần Đường: Lãnh đạo đầu tiên của Đoàn khảo sát thiết kế thủy lợi miền Nam
GV. Trần Đường: Lãnh đạo đầu tiên của Đoàn khảo sát thiết kế thủy lợi miền Nam

Cuối năm 1976, do yêu cầu phát triển công tác thủy lợi của các tỉnh phía Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng Nam Bộ và vùng đất Tây Nguyên trù phú, ngày 24/11/1976 Bộ trưởng Bộ Thủy Lợi có quyết định số 1745-QĐ/TC giải thể “Đoàn khảo sát thiết kế thủy lợi miền Nam” để thành lập hai đoàn: “Đoàn khảo sát quy hoạch thiết kế Bộ Thủy Lợi” gọi tắt là Đoàn ĐH ở hai vùng Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trực thuộc Bộ, lấy tên là Đoàn ĐH1 và Đoàn ĐH2.

Từ đây một mô hình đào tạo kết hợp mới ra đời. Với mô hình này, các Đoàn ĐH đã tổ chức thành các đoàn: khảo sát, quy hoạch, thiết kế thủy lợi làm nhiệm vụ kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất. Các đoàn ĐH là những đoàn công tác có tư cách pháp nhân, là đơn vị cấp 2 của trường, là cơ quan Trung ương hoạt động trên địa bàn các tỉnh có con dấu và tài khoản riêng.

Đoàn ĐH1 đóng ở TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ (Hậu Giang), Long Xuyên (An Giang) với nhiệm vụ điều tra, khảo sát để quy hoạch thiết kế các công trình thủy lợi ở Tây Nam Bộ, giúp sở Thủy Lợi thành phố Hồ Chí Minh làm công tác thủy lợi ở thành phố và thực hiện các đề tài “Nghiên cứu các vấn đề về thủy văn – thủy lực đồng bằng sông Cửu Long, sông Đồng Nai. Bộ phận đóng ở Cần Thơ và Long Xuyên được chuyển thành đoàn ĐH3 đóng ở Cửu Long và Minh Hải (từ tháng 3/1978).

Từ năm 1981 nhiệm vụ của các Đoàn ĐH đã hoàn thành vì thế số lượng của mỗi đoàn giảm xuống còn 20-30 người. Nhiệm vụ của các đoàn thời kỳ này là thực hiện các đề tài khoa học các cấp và thiết kế, thi công các công trình do Bộ thủy lợi hoặc Sở thủy lợi giao cho.

2. Quá trình hình thành các Trung tâm ĐH trong 10 năm tiếp theo

Năm 1986 cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, sau 10 năm hoạt động tại các tỉnh phía Nam. Nhà trường đã nhận thấy ngoài những thành công còn có những bất cập cần phải có sự thay đổi nhất là về tổ chức cần phải có biện pháp khắc phục tình trạng bao cấp trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các Đoàn ĐH. Trường Đại học Thủy Lợi đã báo cáo xin phép Bộ Thủy Lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) chuyển đổi cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ cũng như hình thức hoạt động của các đoàn ĐH.

Ngày 8/12/1986, Bộ trưởng Bộ Thủy Lợi đã có quyết định số 598-QĐ/TC về việc đổi tên các đoàn khảo sát Quy hoạch thiết kế thành các “Trung tâm kết hợp đào tạo, nghiên cứu và thực hành khoa học kỹ thuật thủy lợi tại Nam Bộ và Trung Bộ” gọi tắt là Trung tâm ĐH1 và Trung tâm ĐH2.

Ngày 12/5/1987 Hiệu trưởng trường Đại học Thủy Lợi ra Quyết định số 99-QĐ/TC ban hành “Quy định về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm ĐH1, Trung tâm ĐH2”.

Theo đó, các Trung tâm có nhiệm vụ sau:
– Tổ chức thực hiện tốt quá trình thực tập và làm Đồ án tốt nghiệp cho sinh viên năm thứ 5; bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giảng viên. Thực hiện tốt các hợp đồng đào tạo Đại học theo yêu cầu của địa phương; bồi dưỡng và đào tạo sau Đại học, trên Đại học theo sự phân công của Nhà trường.
– Tổ chức thực hiện tốt đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ và địa phương.
– Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch phục vụ sản xuất của Bộ giao.
– Tổ chức thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế giữa Trung tâm với các địa phương, với các cơ quan sản xuất.
– Có kế hoạch và biện pháp thiết thực để phục vụ công tác thủy lợi ở địa phương.
– Các trung tâm ngoài các nhiệm vụ đã thực hiện trước đây, bắt đầu tổ chức các lớp Đại học Tại chức, tạo điều kiện cho các cán bộ kỹ thuật ở các địa phương có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn.

Những năm từ 1986 đến 1996, các Trung tâm ĐH có những chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức, đã có các cơ quan chuyên trách và đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất để phù hợp yêu cầu của giai đoạn mới. Các Trung tâm đã tổ chức theo hướng có các bộ phận chức năng để tham mưu cho Ban Giám đốc, tiến hành xây dựng hoặc mở rộng cơ sở vật chất, hình thành các khu giảng đường, phòng thí nghiệm… mở thêm hình thức đào tạo Tại chức. Đây cũng là giai đoạn mà sự phối kết hợp giữa các Trung tâm với các bộ môn, khoa đặc biệt là khoa Tại chức cũng như các cơ quan có liên quan khác như các Trường Trung cấp Thủy lợi Hội An, Mỹ Tho… được mở ra và ngày càng liên kết chặt chẽ.

Quá trình hình thành và phát triển Cơ sở 2 - Đại học Thủy Lợi
Quá trình hình thành và phát triển Cơ sở 2 – Đại học Thủy Lợi

3. Cơ sở 2 – Đại học Thủy Lợi: 20 năm trưởng thành

Để đáp ứng nhu cầu cán bộ kỹ thuật Thuỷ lợi ở các tỉnh phía Nam ngày càng tăng, tháng 02 năm 1997, Trung tâm ĐH1 và Nhà trường chủ động đề xuất với Bộ Nông nghiệp &PTNT thành lập Cơ sở 2 – Đại học Thuỷ Lợi tại Thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định số 288 NN-TCCB/QĐ, ngày 21/02/1997 của Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn). Sự ra đời của Cơ sở 2 là bước ngoặt quan trọng trong công tác đào tạo nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Trường ở các tỉnh phía Nam. Đó cũng chính là kết quả minh chứng cho sự lớn mạnh vượt bậc của các đoàn ĐH, tự đổi mới để phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Sau 20 năm, Cơ sở 2 đã từng bước khẳng định vị trí là cơ sở duy nhất đào tạo ngành thuỷ lợi cho các tỉnh phía Nam, là cơ sở khoa học và chuyển giao công nghệ tiên tiến về kỹ thuật thuỷ lợi, thuỷ điện và tài nguyên nước, đồng thời là cơ sở có quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Đến nay, Cơ sở 2 – Đại học Thủy Lợi đã trở thành trung tâm hàng đầu về đào tạo nguồn nhân lực đại học chất lượng cao và là trung tâm hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo sau đại học với nước ngoài tại khu vực phía Nam.

Về nhân lực, Cơ sở có đội ngũ gần 100 giảng viên cơ hữu là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ dồi dào, có truyền thống và bề dày kinh nghiệm. Các giảng viên trẻ hiện này đều được đào tạo từ các nước tiên tiến như: Mỹ, Pháp, Đức, Đan Mạch, Nhật Bản, New Zealand, Nga và Trung Quốc…

Chương trình đào tạo tiên tiến, tiếp cận với chương trình trình đào tạo của các trường đại học quốc tế của Hoa Kỳ, Hà Lan, Đức. Giáo trình và sách tham khảo của các môn học: Được nhập khẩu từ các trường danh tiếng trên thế giới, chủ yếu là Hoa Kỳ, Hà Lan, Đức. Đào tạo theo học chế Tín chỉ, tăng cường thực hành cho sinh viên, tăng cường rèn luyện tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bình luận và phê bình, kỹ năng học tập và làm việc theo nhóm. Các lĩnh vực đang đào tạo gồm: Kỹ thuật Công trình thủy, Kỹ thuật Công trình xây dựng, Kỹ thuật Công trình giao thông, Công nghệ kỹ thuật xây dựng, Kỹ thuật Tài nguyên nước và Cấp thoát nước.

Số lượng sinh viên các hệ đào tạo cũng tăng lên theo từng năm. Trong 10 năm đầu (1997 – 2006), Cơ sở 2 đã tuyển sinh được 2770 sinh viên. Cho đến nay, số lượng sinh viên hiện tại là hơn 3000 sinh viên, mỗi khóa có khoảng 600 sinh viên chính quy, 01 lớp hệ tại chức (vừa làm vừa học) với khoảng 70 sinh viên và các lớp cao học với khoảng hơn 100 học viên. Ngoài ra, trường còn thường xuyên tổ chức các lớp chuyên đề sau đại học theo yêu cầu thực tế của các địa phương, các công ty trong ngành. Ngoài ra, còn tham gia vào Hội đồng Đại Học Thành phố, tăng cường liên kết với các Viện khoa học, các trường Đại học trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực kỹ thuật tài nguyên nước cho các tỉnh phía Nam.

LÃNH ĐẠO CÁC ĐOÀN ĐH VÀ TRUNG TÂM ĐH1 QUA CÁC THỜI KỲ

2 Thai Dinh Hoe-001

3 Ngo Dinh Tuan

4. Chu Dinh Hoang

5 Tong Duc Khang

6 Nguyen Sinh Huy7 Pham Cao Long

ĐOÀN ĐH3

8 Hoang Lam Vien DH3

9 Nguyen Quang Doan

Biên tập

Ban Thông tin – Truyền thông

Bài Viết Khác

Những lý do hàng đầu để lựa chọn ngành công nghệ thông tin

Nếu bạn là người thích bắt kịp những tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và thích sự thay đổi, bạn có thể biến sở thích cá nhân thành sự nghiệp. Tìm hiểu một số lý do hàng đầu để lựa chọn học tập và làm việc trong lĩnh vực này.