Trang chủ / Giới thiệu / Giới thiệu tổng quan / 40 năm – Quá trình đóng góp cho công tác thủy lợi miền nam

40 năm – Quá trình đóng góp cho công tác thủy lợi miền nam

1. Những dấu mốc lịch sử của quá trình hình thành

–    Ngày 1/4/1976, Bộ trưởng Bộ Thủy Lợi ra quyết định số 494-QĐ/TC thành lập đoàn công tác của Trường Đại học Thủy Lợi lấy tên là “Đoàn khảo sát thiết kế thủy lợi miền Nam

–    Ngày 24/11/1976, Bộ trưởng Bộ Thủy Lợi có quyết định số 1745-QĐ/TC giải thể “Đoàn khảo sát thiết kế thủy lợi miền Nam” để thành lập hai đoàn: “Đoàn khảo sát quy hoạch thiết kế Bộ Thủy Lợi” gọi tắt là Đoàn ĐH1 và Đoàn ĐH2

–    Ngày 8/12/1986, Bộ trưởng Bộ Thủy Lợi đã có quyết định số 598-QĐ/TC về việc đổi tên các đoàn khảo sát Quy hoạch thiết kế thành các “Trung tâm kết hợp đào tạo, nghiên cứu và thực hành khoa học kỹ thuật thủy lợi tại Nam Bộ và Trung Bộ” gọi tắt là Trung tâm ĐH1 và Trung tâm ĐH2

–    Ngày 25/2/1997 Bộ Nông nghiệp & PTNT có quyết định số 288NN-TCCB/QĐ cho phép nâng cấp và đổi tên Trung tâm ĐH1 thành “Cơ sở 2 – Đại học Thủy Lợi

2. Những đóng góp cho miền nam trong 10 năm đầu (1976-1986)

Ngay từ những ngày đầu thành lập, trong điều kiện đất ước vừa thống nhất, toàn dân khắc phục phục hậu quả chiến tranh, xây dựng kinh tế, ổn định cuộc sống… mục tiêu hoạt động của các Đoàn ĐH theo mô hình ba kết hợp: “Đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất”. Đây là mô hình thể hiện sự đúng đắn trong hướng đi, mang lại thành công vượt bậc mà chỉ có duy nhất trường Đại học Thủy Lợi làm được đầu tiên, có hiệu quả cao cho đến ngày hôm nay.

Về mặt đào tạo:

Các đoàn ĐH có nhiệm vụ kết hợp đào tạo, hướng dẫn thực tập và đồ án tốt nghiệp cho sinh viên năm cuối (các khóa 14, 15, 16, 17…). Trong giai đoạn này đã bước đầu triển khai đào tạo hệ đại học tại chức tại Mỹ Tho, Phan Rang.

Trong 10 năm đầu các Đoàn ĐH đã Đào tạo hơn 600 sinh viên năm thứ 5 thuộc các ngành, bồi dưỡng kiến thức tay nghề cho 200 kỹ sư tập sự, đào tạo một lớp sau đại học, hướng dẫn 6 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ…

Về hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai phục vụ sản xuất:

Các đoàn ĐH có nhiệm vụ chính là thu thập tài liệu, khảo sát và lập quy hoạch  thủy lợi cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các tài liệu cơ bản đó vẫn được lưu trữ ở hầu hết các tỉnh từ Trung Nam Bộ đến mũi Cà Mau và là những tài liệu quý trong công tác nghiên cứu quản lý Tài nguyên nước. Nhiều đề tài khoa học đã được các thầy trong Đoàn phát hiện và triển khai nghiên cứu như:

–    Nghiên cứu một số vấn đề thủy văn – thủy lực đồng bằng sông Cửu Long
–    Đánh giá nguồn nước ở Tây Nguyên
–    Đánh giá nguồn nước Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
–    Nghiên cứu chế độ tưới tiêu lúa nước ở các tỉnh phía Nam
–    Nghiên cứu biện pháp thau chua rửa mặn
–    Nghiên cứu Cơ sở khoa học và thực tiễn trong quy hoạch thủy lợi các huyện tại Tp. HCM, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau…
–    Nghiên cứu Cơ sở khoa học và thực tiễn trong thiết kế, thi công hồ chứa, đập dâng…cho các tỉnh ở Tây nguyên cũng như ở miền Đông và Tây Nam bộ

Các kết quả nghiên cứu tài nguyên nước, phát triển thủy lợi, phục vụ sản xuất trên đã góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội khu vực phía Nam.

Đặc biệt việc triển khai mô hình toán của Cố Giáo sư Nguyễn Như Khuê đã được thực hiện ở giai đoạn này; tiếp sau nhiều thế hệ thầy trò đã phát huy kết quả nghiên cứu của Cố Giáo sư trong công tác nghiên cứu đánh giá tài nguyên nước ở Đồng bằng sông Cửu Long.

3. Những đóng góp cho công tác thủy lợi miền nam trong 10 năm tiếp theo (1986-1996)

Công tác đào tạo:

Trong giai đoạn 10 năm tiếp theo (1986-1996), các Trung tâm có những chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức, đã có các cơ quan chuyên trách và đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất để phù hợp yêu cầu của giai đoạn mới. Để có thể mở thêm hình thức đào tạo Tại chức, các Trung tâm đã tổ chức theo hướng có các bộ phận chức năng để tham mưu cho Ban Giám đốc, tiến hành xây dựng hoặc mở rộng cơ sở vật chất, hình thành các khu giảng đường, phòng thí nghiệm… Đây cũng là giai đoạn mà sự phối kết hợp giữa các Trung tâm với các bộ môn, khoa đặc biệt là khoa Tại chức cũng như các cơ quan có liên quan khác như các Trường Trung cấp Thủy lợi Hội An, Mỹ Tho… được mở ra và ngày càng liên kết chặt chẽ.

Quy mô đào tạo tại chức của giai đoạn 1986-1996
Quy mô đào tạo tại chức của giai đoạn 1986-1996

Công tác nghiên cứu khoa học:

Phát huy những thành tích của giai đoạn đầu, các thầy cô giáo và các nhà khoa học đã có nhiều đóng góp quan trọng về khoa học công nghệ, phục vụ đắc lực, có hiệu quả cho sự phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nhiều đề tài có tính chất chiến lược, những vấn đề cấp bách và thiết thực trong nhiều lĩnh vực trong cuộc sống đã được thực hiện trong giai đoạn này như:

–    Đề tài cân bằng nước khu vực Tây Nguyên trong trương trình KC12
–    Đề tài xây dựng mô hình tính toán lũ, kiệt và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long…
–    Một số đề tài trong chương trình 60 và 60B về điều tra tổng hợp và định hướng khai thác Đồng bằng sông Cửu Long; chương trình lũ và phản biện quy hoạch lũ sông Mê Kông…Đã xây dựng và vận dụng được những phương pháp và công cụ mạnh để đánh giá toàn diện tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long, lưu vực sông Đồng Nai

Các dự án ứng dụng KHCN và triển khai phục vụ sản xuất:

Trong thời gian này, các dự án triển khai ứng dụng từ kết quả nghiên cứu khoa học và các dự án sản xuất được phát huy mạnh mẽ nhất. Trung tâm ĐH1 đã tham gia nhiều dự án lớn như:

–    Quy hoạch thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long
–    Quy hoạch thủy lợi vùng Đồng tháp mười
–    Quy hoạch thủy lợi vùng Tứ giác Long xuyên – Hà tiên
–    Quy hoạch thoát lũ ra biển tây
–    Thiết kế nhiều hạng mục công trình trong hệ thống thoát lũ biển tây và Tứ giác Long xuyên – Hà Tiên
–    Thiết kế nhiều hạng mục công trình trên hệ thống thủy lợi Ô Môn – Xà no; Dọc kênh Quản lộ – Phụng Hiệp
–    Thiết kê hệ thống kênh cấp 2, 3 và các công trình trên kênh thuộc Hệ thống Thủy lợi Dầu Tiếng
–    Thiết kế nhiều hồ chưa lớn nhỏ khắp khu vực tây nguyên, miền trung và đông nam bộ
–    Thiết kế nhiều dự án thủy lợi vừa và nhỏ, hệ thống kênh và công trình trên kênh cho các tỉnh Đồng Nai, Bà rịa – Vũng tàu
–    Nghiên cứu, thiết kế và thi công kênh xi măng lưới thép vỏ mỏng
–    Thi công nhiều cống vùng triều lớn nhỏ khắp các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu long

Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm công trình nghiên cứu và áp dụng thực tế của công nghệ xi măng lưới thép vỏ mỏng
Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm công trình nghiên cứu và áp dụng thực tế của công nghệ xi măng lưới thép vỏ mỏng

4. Những đóng góp cho công tác thủy lợi miền nam trong 20 năm trở lại đây

Trong những năm gần đây, theo xu thế phát triển mạnh mẽ của đất nước, sự phát triển mạnh mẽ của nghiên cứu khoa học và công nghệ, các mặt nghiên cứu ứng dụng và phục vụ sản xuất cũng được Nhà trường phát triển thành mô hình công ty tư vấn và chuyển giao công nghệ, các viện thuộc trường. Tại phía nam có Viện Thủy lợi và Môi trường; Chi nhánh Miền nam – Công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ. Do vậy, về mặt các dự án tư vấn, sản xuất có ít chú trọng hơn, nhưng Cơ sở 2 vẫn phát triển mạnh mẽ theo mô hình ba kết hợp. Đặt biệt, lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học được chú trọng và đạt được những thành tựu to lớn.

Về lĩnh vực đào tạo:

Cho đến nay, Cơ sở đã trở thành trung tâm hàng đầu về đào tạo nguồn nhân lực đại học chất lượng cao và là trung tâm hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo sau đại học với nước ngoài tại khu vực phía Nam. Các lĩnh vực đang đào tạo gồm: Kỹ thuật Công trình thủy, Kỹ thuật Công trình xây dựng, Kỹ thuật Công trình giao thông, Công nghệ kỹ thuật xây dựng, Kỹ thuật Tài nguyên nước và Cấp thoát nước với tổng số khoảng 600 sinh viên/khóa, 01 lớp hệ tại chức (vừa làm vừa học) với khoảng 70 sinh viên/khóa và các lớp cao học với khoảng hơn 100 học viên/khóa. Ngoài ra, trường còn thường xuyên tổ chức các lớp chuyên đề sau đại học theo yêu cầu thực tế của các địa phương, các công ty trong ngành. Thực hiện chiến lược phát triển, Đại học Thủy Lợi có chương trình đào tạo tiên tiến, tiếp cận với chương trình trình đào tạo của các trường đại học quốc tế của Hoa Kỳ, Hà Lan, Đức. Giáo trình và sách tham khảo của các môn học: Được nhập khẩu từ các trường danh tiếng trên thế giới, chủ yếu là Hoa Kỳ, Hà Lan, Đức. Đào tạo theo học chế Tín chỉ, tăng cường thực hành cho sinh viên, tăng cường rèn luyện tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bình luận và phê bình, kỹ năng học tập và làm việc theo nhóm.

Số lượng sinh viên các hệ đào tạo cũng tăng lên theo từng năm. Trong 10 năm đầu (1997 – 2006), Cơ sở 2 đã tuyển sinh được 2770 sinh viên gồm: 1870 SV đại học chính quy (25 lớp); 630 SV đại học tại chức (10 lớp); 140 SV cao đẳng; 130 học viên cao học. Từ năm 2006 đến nay, số lượng sinh viên chính quy hàng năm tăng dần từ 1500 sinh viên đến gần 3000 sinh viên.

Biểu đồ phát triển nguồn nhân lực cán bộ, giảng viên
Biểu đồ phát triển nguồn nhân lực cán bộ, giảng viên
Biểu đồ kinh phí từ vốn ngân sách và các nguồn thu
Biểu đồ kinh phí từ vốn ngân sách và các nguồn thu
Biểu đồ quy mô đào tạo hệ đại học chính quy các khóa
Biểu đồ quy mô đào tạo hệ đại học chính quy các khóa

Về lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất:

Trong 20 năm trở lại đây, với chiến lược phát triển của Nhà trường, Cơ sở 2 – Đại học thủy lợi trở thành một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ vững mạnh, có khả năng giải quyết các vấn đề chiến lược quốc gia về tài nguyên nước, giải quyết các bức xúc thuộc chuyên ngành của các vùng các khu vực và các lưu vực sông, phát triển khoa học công nghệ tính toán, dự báo, thiết kế, thi công và quản lý một số ngành  mũi nhọn, tạo khả năng thương mại và hợp tác quốc tế. Cơ sở 2 – Đại học thủy lợi đã chủ trì thực hiện 09 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, 15 đề tài cấp Bộ, và nhiều đề tài cấp cơ sở. Trong đó, các đề tài khoa học trọng điểm quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu và quan tâm của các nhà khoa học, nhà quản lý cũng như người dân phải kể đến là:

CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP NHÀ NƯỚC

TT Tên đề tài Chủ nhiệm đề tài Thời gian thực hiện
1 Nghiên cứu các biện pháp giảm nhẹ thiên tai, hạn hán các tỉnh duyên hải miền Trung GS.TS Đào Xuân Học 2000-2002
2 Ảnh hưởng của thiên tai hạn hán đến  sản xuất nông nghiệp và dân sinh GS.TS Đào Xuân Học 2000-2001
3 Mô hình thủ nghiệm các giải pháp giảm nhẹ thiên tai hạn hán GS.TS Đào Xuân Học 2000-2001
4 Nghiên cứu các biện pháp giảm nhẹ thiên tai hạn hán ở các tỉnh Duyên Hải Miền Trung GS.TS Đào Xuân Học 2000-2002
5 Nghiên cứu các vấn đề thoát lũ và phát triển kinh tế – xã hội – văn hóa – môi trường phục vụ phát triển bền vững vùng Đồng Tháp Mười GS.TS Đào Xuân Học 2002-2004
6 Nghiên cứu dự báo hạn hán khu vực Nam Trung bộ và Tây nguyên và đề xuất các giải pháp phòng chống PGS.TS. Nguyễn Quang Kim 2003-2005
7 Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến tài nguyên và môi trường nước phục vụ phát triển bền vững sông Vàm Cỏ (chương trình KC.08) GS.TS Đào Xuân Học 2005-2005
8 Nghiên cứu giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn nước tương thích các kịch bản phát triển công trình ở thượng lưu để phòng chống hạn và xâm phập mặn ở Đồng bằng Sông Cửu Long (KC.08/06-10) GS. TS. Nguyễn Quang Kim  

2007-2010

 

9 Nghiên cứu giải pháp tổng thể kiểm soát ngập lụt vùng hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn và vùng lân cận GS.TS. Nguyễn Quang Kim 2011 – 2013

Ngoài ra, Cơ sở 2 còn có 59 thành tựu nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, tham gia tư vấn nhiều công trình, dự án vừa và nhỏ khu vực đông nam bộ và tây nam bộ.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tham dự Hội thảo về Đề tài KC.08.19
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tham dự Hội thảo về Đề tài KC.08.19
GS.TS Đào Xuân Học báo cáo kết quả Đề tài KC.08.22 trước nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
GS.TS Đào Xuân Học báo cáo kết quả Đề tài KC.08.22 trước nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

5. Kết luận

Chặng đường 40 năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự giúp đỡ của lãnh đạo và nhân dân các địa phương, các cơ quan trong và ngoài ngành, sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà Trường và bằng sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên, Cơ sở 2 – Đại học Thủy Lợi đã thể hiện được vai trò của mình trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực tài nguyên nước cho các tỉnh phía Nam, khu vực Trung Nam bộ và Tây nguyên, đồng thời là một trong những Trung tâm khoa học công nghệ mạnh của ngành. Đặc biệt, mô hình ba kết hợp được chú trọng ngay từ đầu và vẫn phát huy mạnh mẽ, hiệu quả mang lại to lớn cho đến ngày hôm nay và sẽ phát triển tốt hơn, kết hợp chặt chẽ hơn trong tương lai.

Thực hiện: Xuân Thành

Biên tập

Ban Thông tin – Truyền thông

Bài Viết Khác

Những lý do hàng đầu để lựa chọn ngành công nghệ thông tin

Nếu bạn là người thích bắt kịp những tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và thích sự thay đổi, bạn có thể biến sở thích cá nhân thành sự nghiệp. Tìm hiểu một số lý do hàng đầu để lựa chọn học tập và làm việc trong lĩnh vực này.